THÍCH NHƯ ĐIỂN

 

 

 

 

Thế danh:  Lê Cường

Sinh ngày 28 tháng 6 năm 1949 tại xă Xuyên Mỹ, quận Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam.

Xuất gia năm 1964 tại Tổ Đ́nh Phước Lâm, Hội An.

1972 du học tại Nhật Bản.

1977 tốt nghiệp Cao học Phật Giáo tại Nhật Bản.

Định cư tại Đức năm 1977.

Khai sơn Chùa Viên Giác, Đức.

Chủ trương báo Viên Giác.

Đă xuất bản trên 30 tác phẩm và dịch phẩm.

Có bài đăng trên nhiều báo chí, và trang nhà điện toán toàn cầu Phật Giáo Việt Nam.

 

Tác phẩm đă xuất bản:

-    Truyện Cổ Việt Nam - Tập 1 và 2, Nhật ngữ, 1974-1975

-    Giọt Mưa Đầu Hạ - 1979

-    Ngỡ Ngàng – 1980

-    Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam Hải Ngoại Trước và Sau 1975 - Việt và Đức ngữ, 1982.

-    Cuộc Đời Người Tăng Sĩ - Việt và Đức ngữ, 1983.

-    Lễ Nhạc Phật Giáo - Việt và Đức ngữ, 1984.

-    T́nh Đời Nghiă Đạo – 1985

-    T́m Hiều Giáo Lư Phật Giáo - Việt và Đức ngữ, 1985

-    Đời Sống Tinh Thần Của Phật Tử Việt Nam Tại Ngoại Quốc - Việt và Đức ngữ, 1986

-    Đường Không Biên Giới – Việt và Đức ngữ, 1987

-    H́nh Ảnh 10 Năm Sinh Hoạt Phật Giáo Việt Nam Tại Tây Đức - Việt và Đức ngữ, 1988

-    Ḷng Từ Đức Phật – 1989

-    Nghiên Cứu Giáo Đoàn Phật Giáo Thời Nguyên Thủy I, II và III - Dịch từ Nhật ngữ ra Việt và Đức ngữ, 1990, 1991 và 1992

-    Tường Thuật Về Đại Hội Tăng Già Phật Giáo Thế Giới Kỳ 5 Khóa I - Việt, Anh và Đức ngữ, 1993

-    Giữa Chốn Cung Vàng – 1994

-    Chùa Viên Giác – 1994

-    Chùa Viên Giác - Đức ngữ, 1995

-    Vụ Án Một Người Tu – 1995

-    Chùa Quan Âm (Canada) – 1996

-    Phật Giáo và Con Người - Việt và Đức ngữ, 1996

-    Khóa Giáo Lư Âu Châu Kỳ 9 - Việt và Đức ngữ, 1997

-    Theo Dấu Chân Xưa – 1998

-    Sống và Chết Theo Quan Niệm Của Phật Giáo – Việt và Đức ngữ, 1998

-    Tiếp Kiến Với Đức Đạt Lai Lạt Ma - Việt và Đức ngữ, 1999

-    Vọng Cố Nhân Lầu – 1999

-    Có và Không - Việt và Đức ngữ, 2000

-    Kinh Đại Bi - Dịch từ Hán sang Việt và Đức ngữ, 2001

-    Phật Thuyết Bồ Tát Hành - Dịch từ Hán sang Việt ngữ, 2001

-    Bhutan Có Ǵ Lạ?  2001

-    Kinh Đại Phương Quảng Tổng Tŕ - Dịch từ Hán sang Việt ngữ, 2002

-    Cảm Tạ Xứ Đức - Việt và Đức, 2002

-    Thư Ṭa Soạn Báo Viên Giác Trong 25 Năm (1979 - 2003) – 2003

-    Bổn Sự Kinh - Dịch từ Hán sang Việt, 2003

-    Những Đoản Văn Viết Trong 25 Năm Qua - Việt và Đức, 2003

-    Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận - Dịch từ Hán sang Việt, 2004

-    Làm Thế Nào Để Trở Thành Một Người Tốt – 2004

-    Đại Đường Tây Vực Kư – Pháp sư Huyền Trang, Thích Như Điển dịch Việt, 2004

-    Dưới Cội Bồ Đề - 2005

-    Đại Thừa Tập Bồ Tát Học Luận, dịch từ Hán Văn sang Việt Ngữ, 2005

-    Bồ Đề Tư Lương Luận, dịch từ Hán Văn sang Việt Ngữ, 2005

-    Phật nói Luận A Tỳ Đàm về việc thành lập thế giới, dịch từ Hán Văn sang Việt Ngữ, 2006

-    Giai nhân & Ḥa Thượng, Việt Ngữ, 2006

-    Thiền Lâm Tế Nhật Bản, dịch từ Nhật Ngữ sang Việt Ngữ, 2006

-    Luận về con đường giải thoát, dịch từ Hán Văn sang Việt Ngữ, 2006

-    Luận về bốn chân lư, dịch từ Hán Văn sang Việt Ngữ, 2007

-    Tịnh Độ Tông Nhật Bản, dịch từ Nhật Ngữ sang Việt Ngữ, 2007

-    Tào Động Tông Nhật Bản, dịch từ Nhật Ngữ sang Việt Ngữ, 2008

-    Phật Giáo và Khoa Học, Việt Ngữ, 2008

-    Pháp Ngữ, Việt Ngữ, 2008

-    Những mẫu chuyện linh ứng của  Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát, dịch từ Nhật Ngữ sang Việt Ngữ, 2009

-    Nhật Liên Tông Nhật Bản, dịch từ Nhật Ngữ sang Việt Ngữ, 2009

 

a


 

NGHIÊN CỨU KINH KIM CANG

PHẦN VÔ NGĂ 

 

 

Lúc ấy Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật rằng:

“Thế Tôn, người trai lành, người gái tốt khi phát tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề th́ tâm ấy phải trụ như thế nào? Và tâm ấy phải hàng phục ra sao?”

Phật đáp:

“Tu Bồ Đề! người trai lành, người gái tốt ấy khi phát tâm A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề th́ nên sanh tâm như thế này: Khi ta diệt độ, tất cả chúng sanh diệt độ. Tất cả chúng sanh diệt độ rồi mà không có một chúng sanh nào thật diệt độ cả. V́ sao vậy? Tu Bồ Đề! nếu Bồ Tát có tướng ta, có tướng người, có tướng chúng sanh, có tướng thọ giả tức chẳng phải là Bồ Tát. Tại sao như vậy? Tu Bồ Đề! Thật ra chẳng có pháp để phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề Tâm. Tu Bồ Đề! V́ sao vậy? Như Lai ở nơi Phật Nhiên Đăng có chứng được pháp A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề chăng?”

“Bạch không! Thế Tôn. Như con rơ biết chỗ nghĩa của Phật dạy th́ nơi Phật Nhiên Đăng, Ngài không có pháp nào để chứng A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề cả.”

Phật bảo:

“Đúng thế,đúng thế Tu Bồ Đề! Thật chẳng có pháp nào Như Lai đă chứng A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề cả. Này Tu Bồ Đề! Nếu có pháp nào mà Như Lai chứng được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề th́ Phật Nhiên Đăng tức chẳng thọ kư cho ta rằng: Ngươi ở đời vị lai sẽ chứng quả Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni, thật ra cũng chẳng có pháp nào để chứng A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề cả. Cho nên Phật Nhiên Đăng đă thọ kư cho ta và nói rằng: Ngươi ở đời sau sẽ được làm Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni. V́ sao vậy? Như Lai nghĩa là các pháp như nghĩa vậy. Nếu có kẻ nào đó nói rằng Như Lai chứng A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề th́ Tu Bồ Đề thật ra chẳng có pháp nào Như Lai chứng A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề cả. Này Tu Bồ Đề chỗ mà Như Lai chứng A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề ở trong ấy không thật, không hư. Cho nên Như Lai nói là tất cả pháp đều là Phật pháp. Tu Bồ Đề ! Nói rằng tất cả pháp tức là chẳng phải tất cả pháp. Ấy mới chính là tất cả pháp…”.

Đọc một đoạn kinh Kim Cang như trên, ta đă thấy rơ thật tướng của các pháp rồi đó là lời Phật dạy cho Ngài Tu Bồ Đề thật ra tướng của các pháp vốn nó chẳng là ǵ cả. Nó không thật không hư, không đến, không đi, không c̣n, không mất và không có cái ǵ được gọi là pháp. V́ pháp vốn vô ngă vậy. Ngay cả danh từ gọi là chúng sanh ấy vốn không có thật. Tuy chúng ta vẫn gọi là chúng sanh. Tuy rằng có chúng sanh diệt độ ấy. V́ nếu Bồ Tát c̣n tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, đây chẳng phải là Bồ Tát. Nếu Bồ Tát trụ nơi h́nh tướng ấy, phát tâm đúng là không phải một vị Bồ Tát, v́ tất cả những tướng ấy vốn không có thật; chỉ là giả tướng mà thôi. Đă là một Bồ Tát mà không nhận chân rơ pháp ấy vốn không thật. Rơ ràng vị ấy chẳng phải là một Bồ Tát.

Thật ra, Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn cũng không nhận được một pháp nào từ Đức Phật Nhiên Đăng để được thành Phật cả. V́ lẽ các pháp vốn là như thế. Như thế có nghĩa là như như bất động. Pháp ấy vốn không đi, không c̣n, không mất. Trước khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời, có Đức Phật Nhiên Đăng xuất hiện nơi đời này rồi. Trước Đức Phật Nhiên Đăng, có Phật Oai Âm Vương ra đời và sau khi Đức Thích Ca ra đời sẽ có Đức Phật Di Lặc ra đời. Tất cả các vị Phật ấy chỉ nói một pháp chứ không nói pháp ǵ khác ngoài pháp vị giải thoát ấy cả.

Như Lai có nghĩa là các pháp Như Nghĩa. Các pháp Như Nghĩa có nghĩa là pháp ấy vốn Như Thế nên gọi là Như Lai và Như Lai cũng không từ đâu đến và cũng không đi về đâu cả; nên gọi là Như Lai. Như vậy Như Lai chính là Chơn Như, là Thể Tánh bất động không thay đổi v́ lư do này hay lư do khác. Các pháp vốn dĩ là thế, không v́ ta khen tặng mà pháp ấy hiện hữu, cũng chẳng phải v́ ta chê bai mà pháp ấy không c̣n hiện hữu nơi mỗi cá thể của mỗi chúng sanh và ngay cả những vị Bồ Tát hay những vị Phật. Phật cũng có dạy rằng: “Tất cả pháp đều là Phật pháp”. Rơ ràng là như vậy, v́ trên thế gian này chẳng có cái ǵ không do nhân duyên sanh và cũng chẳng có cái ǵ không phải do nhân duyên diệt cả. Nhân duyên cũng là pháp. Pháp ấy chính là pháp sanh diệt. Ngược lại của pháp sanh diệt, tức pháp vô sanh. Pháp vô sanh cũng c̣n gọi là Chơn Như. Chơn Như ấy chính là Niết Bàn tịch tịnh không đến, không lui, không c̣n và chẳng mất. Tuy nhiên tất cả pháp ấy thật ra cũng chẳng phải là tất cả pháp th́ đó mới chính là các pháp. V́ những pháp này vốn, như thị, không thay đổi bởi cái nh́n hay sự nhận thức của mỗi một cá thể của chúng ta.

 

“Tu Bồ Đề! giống như Tu Bồ Đề nói người có thân to lớn th́ Đức Thế Tôn Như Lai nói người có thân to lớn tức chẳng phải to lớn th́ đó mới gọi là to lớn. Tu Bồ Đề! Bồ Tát cũng như vậy. Nếu lại nghĩ rằng khi ta diệt độ th́ vô lượng chúng sanh tức chẳng gọi là Bồ Tát. V́ sao vậy Tu Bồ Đề? Thật chẳng có chúng sanh nào gọi là Bồ Tát cả. Cho nên Phật nói:  "Tất cả pháp đều vô ngă, vô nhơn, vô chúng sanh, vô thọ giả. Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát nghĩ rằng: Ta sẽ trang nghiêm Phật độ th́ cũng không phải là Bồ Tát. V́ sao vậy? Như Lai nói rằng: trang nghiêm Phật độ tức chẳng phải trang nghiêm th́ mới gọi là trang nghiêm. Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát rơ biết về pháp vốn vô ngă th́ Như Lai nói đó mới thật là một Bồ Tát”.

Đọc qua đoạn này ta rơ biết được điều ǵ? Ta có thể thay thế bằng một mệnh đề khác như sau: “Nói là như thế, nhưng thật sự ra không phải như thế. Ấy mới là như thế”. Chữ như thế ở đây có thể hiểu là pháp nhĩ. Pháp nhĩ ấy vốn là như vậy. Như thế nhưng nếu chấp vào như thế th́ không phải như thế. V́ như thế ấy c̣n bị cái ngă của ta làm chủ. Ngay cả Bồ Tát mà c̣n để cho cái ngă ấy chi phối th́ đó cũng chẳng phải là một Bồ Tát.

Phật đối với chúng sanh ḷng từ bi đều b́nh đẳng những mỗi chúng ta đón nhận ḷng từ bi ấy có khác nhau. V́ lẽ tâm của ta c̣n phân biệt. Nếu đón nhận ḷng từ bi ấy với Tu Bồ Đề vô phân biệt th́ ḷng từ bi ấy mới chính là sự thể hiện ḷng từ của chư Phật. Cũng giống như một người mẹ có nhiều người con. Bà ta bao giờ cũng thương tất cả những người con ấy đều giống nhau. Nhưng rủi có một đứa bịnh th́ bà phải chăm lo đứa kia nhiều hơn. Đó không phải là có tâm phân biệt; nhưng v́ muốn cho con ḿnh mau lành bịnh vậy. Lẽ ra đức trẻ bị bịnh ấy càng phải được thương nhiều hơn mới phải; nhưng ở đây ta lại có tâm phân biệt với kẻ bị bịnh kia. Do vậy mà tâm của ta chính là một tâm không như pháp.

Cũng như thế, với những người hành Bồ Tát hạnh lẽ ra khi gặp người gây chướng ngại cho Phật pháp, cố ư ngăn che hay làm cho Thánh pháp bị mang tiếng v́ nhiều lư do này hay lư do kia. Lẽ ra ta phải thương người này nhiều hơn, những người b́nh thường khác nữa. V́ người này đang bịnh, mà ta lại c̣n có tâm khinh miệt  hoặc oán hờn kẻ kia, sao lại như thế này hay như thế  nọ. Thật ra Đức Phật A Di Đà trong lời nguyện thứ 18 không có sự phân biệt này. Tất cả chúng sanh đều phải được b́nh đẳng để được cứu độ và nhất là sự giác ngộ giải thoát không có sự phân biệt bỉ thử nơi đây.

Dưới mắt của Đức Phật chẳng có pháp nào được gọi là Bồ Tát. V́ lẽ tất cả pháp đều không có cái ta nơi ấy và cũng không có người nào nơi ấy, không có sự tồn tại của chúng sanh nơi ấy và cũng không có kẻ có đời sống lâu dài, không có kẻ cho cũng như người nhận. Ngay cả Bồ Tát mà c̣n thấy Phật đang trang nghiêm các quốc độ th́ đó cũng chẳng phải là Bồ Tát v́ lẽ chẳng phải có Phật quốc độ kia mới được trang nghiêm, mà vốn sự trang nghiêm ấy đă có sẵn trước khi vị Phật ấy ra đời hay nhập diệt. sau khi vị Phật kia nhập diệt hoặc ra đời cơi ấy vẫn trang nghiêm và trước đó cũng vậy. Chẳng v́ thế này hay thế kia mà có sự trang nghiêm. Chính sự trang nghiêm ấy là như như bất động.

Nếu tất cả các Bồ Tát rơ biết các pháp vốn vô ngă th́ đó mới thật là một Bồ Tát. Sỡ dĩ ta nh́n hay nhận xét một vật ǵ, v́ ta lấy cái ta làm chủ thể để sai khiến sự nhận thức. Do vậy có sự sai lệch. Đă là ta th́ ta không muốn ai hơn ta cả, ta chỉ muốn người đối diện thua ta th́ cái ta ấy mới hả dạ và chứng tỏ rằng chủ thể kia là đúng. Khi chủ thể chủ trương như thế lại c̣n mang thêm vào những cái thuộc về ta nữa để thỏa măn cho tự thể kia. Nhưng  những ǵ thuộc về ta vốn nó không thật. Nhưng ta vẫn cố chấp vào đó và cho rằng có thật. V́ vậy cuối cùng ta chẳng phải là ta mà ta chính là kẻ bị cái ta và những cái thuộc về ta ấy sai khiến. Khi ḿnh mà không c̣n biết về ḿnh là ai th́ đúng ḿnh là giả danh chứ không phải là một thực tướng. Lại nữa những ǵ thuộc về ta ấy vốn do cái chủ thể chấp có, chấp không, chấp c̣n, chấp mất sai khiến. Cho nên phải khiến làm sao cho những đối tượng của chủ thể ấy như ḿnh muốn mới được và lúc ấy cái ta này mới chấp nhận là đúng.

Nhưng ta này là ǵ? Thật sự ra nó chẳng là ǵ cả. Nó chỉ là một cái không to tướng khi tất cả các pháp đều đă được rơ biết như thật. Người học Phật nếu không biết mặt thật của các pháp vốn là vô ngă th́ rơ ràng sự học Phật ấy chưa đạt đến chân thiện mỹ. Nhiều khi c̣n phải vượt qua và lên trên cả sự chân thiện mỹ này nữa. V́ chân thiện mỹ ấy cũng chỉ là một sự b́nh thường trong bao nhiêu pháp sinh diệt của thế gian mà thôi. Đă là sinh diệt tức không có thật tướng. Đă không thật tướng, tức pháp ấy là vô ngă. Ai sống trong vô ngă ấy mà rơ biết được vô ngă th́ kẻ ấy, chính là người đang thong dong tự tại trong Niết Bàn hiện thế.

Niết Bàn cũng như vậy, vốn nó không phải là một nơi chốn, mà Niết Bàn chính là không, vô tướng và vô tác. Có nhiều người muốn rơ biết Niết Bàn là ǵ? Nhưng làm sao trả lời cho kẻ đối diện rơ được, v́ pháp ấy vốn là không. Không này không phải là không có mà không này vốn vô sanh diệt. Niết Bàn ấy cũng không đến, không đi, không c̣n, không mất, không tăng, không giảm, nên gọi là vô tướng. Trong sự vô sanh ấy không có tướng đến và tướng đi. Nếu có chăng chỉ là sự thị hiện mà thôi. Chứ không phải là thực tướng. Ở đây sự c̣n và sự mất, sự tăng và sự giảm cũng vậy. Tất cả thế gian này đều là một hiện tượng, đă là một hiện tượng th́ bị sinh diệt chi phối. Cái ǵ bị chi phối bởi sanh diệt, cái ấy chẳng phải là pháp vô ngă. Đă là vô ngă th́ không có một pháp ǵ có thể chi phối cả. Như thế mới gọi là một Bồ Tát.

Bồ Tát khi độ chúng sanh không mang tâm phân biệt để độ. V́ nếu c̣n phân biệt th́ đó không phải là chính danh Bồ Tát. Từ đó ta thấy đức Phật A Di Đà khi c̣n là một Bồ Tát Pháp Tạng, hành Bồ Tát đạo, Ngài đă tư duy trăi qua 5 kiếp như thế để tự hỏi ḿnh và đi sâu vào tâm thức của từng chúng sanh một là có nên cho họ không? V́ lẽ họ có niệm đến danh hiệu của ḿnh và dẫu cho họ bị phạm tội ngũ nghịch hay không tin kính ngôi Tam Bảo? Cuối cùng sau 5 kiếp tư duy Ngài đă rời chỗ ngồi của Bồ Tát và thành Phật A Di Đà để đi cứu độ quần sanh. Rơ ràng Bồ tát đă quán sát rằng. tất cả các pháp đều có tính cách bất định; nên Nhứt Xiển Đề và những người phạm tội ngũ nghịch cũng bất định. Có thể ngày hôm qua họ là Nhứt Xiển Đề, nhưng ngày mai và đời sau họ hối hận ăn năn th́ Nhứt xiển đề kia không c̣n là Nhứt Xiển Đề nữa. Đây chính là tánh không nhất định của pháp. Do vậy, Ngài đă hoan hỷ với cái tâm vô ngă đề thành Phật và cứu độ chúng sanh.

Rơ ràng đây là một đại hạnh, một đại nguyện không phải vị Phật nào cũng phát ra lời thệ ấy được. C̣n ta nếu không tin và không có tâm sám hối th́ quyết ta vẫn c̣n ch́m đắm trong bao nỗi luân hồi. Phật thấy như vậy mà cảm thương; nhưng biết làm sao hơn, khi chúng sanh chẳng tin vào nhân quả, thiện ác và nhất là không tin vào những lời thệ nguyện của Ngài.

Có một hôm một vị Bà La Môn hỏi Phật rằng:

“Bạch Đức Thế Tôn Ngài là một vị Phật tại sao Ngài không cứu độ hết tất cả chúng sanh c̣n bị đọa vào địa ngục, mà chúng sanh vẫn c̣n khổ đau đây đó. vậy ḷng từ bi của Ngài để ở nơi đâu?”

Thay v́ Phật trả lời cho ông Bà La Môn này th́ Phật hỏi lại ông ta rằng:

“Này ông Bà La Môn! Nếu ông là người rất rành rẽ con đường  từ đây cho đến xứ Ma Kiệt Đà. Ông chỉ rất rành mạch cho kẻ đi đường ấy rằng phải đi như thế này rồi rẽ trái, rẽ phải bao nhiêu lần, đoạn đi thẳng bao nhiêu lần và độ bao lâu th́ đến, nhưng kẻ t́m đường kia vẫn bị lạc th́ lỗi ấy tại ai?”

“Bạch Ngài! Dĩ nhiên là kẻ đi đường kia”.

Phật nói:

“Ta cũng thế. Ta chỉ là người dẫn đường mà thôi”.

Đó là kẻ dẫn đường, nhưng không phải là kẻ dẫn đường b́nh thường mà là kẻ đă vượt lên khỏi sự sanh tử, không bị ch́m đắm trong tử sinh và lấy phương dược thật tốt lành, ấy là cách hướng dẫn, nhưng người ấy vẫn không đi đúng. Rơ ràng lỗi ấy không phải ở kẻ chỉ đường.

Thông thường một vị A La Hán sau khi lậu tận đă sạch, chỉ muốn an nghỉ nơi Niết Bàn đă đạt được; nhưng một Bậc A La Hán, một bậc Chánh Biến Tri không dừng nghỉ nơi ấy mà c̣n dùng nhiều phương tiện để hóa độ chúng sanh. Ở đây có thể nói chính v́ ḷng từ bi, lợi tha, vô ngă mà Đức Phật đă xuất hiện nơi đời để tế độ chúng sanh khắp tam thiên đại thiên thế giới như thế.

Tóm lại, khi đọc, khi tụng cũng như khi giải nói Kinh Kim Cang ta hiểu được ǵ?

Nếu ta không trụ vào h́nh thức để sanh tâm. Nếu ta không trụ vào các pháp của xúc để sanh tâm mà nên trụ vào chỗ tâm vô trụ th́ đó mới chính là chỗ trụ. Đa phần chúng ta trụ vào tâm hữu ngă cho nên bao giờ mới sanh được thật tướng. Bao giờ nơi tâm ta vô ngă th́ tướng vô sanh mới hiện. Nếu ta c̣n trụ vào chỗ cảm nhận bởi các pháp hay thấy tốt xấu, lành dữ v.v… th́ đó chẳng phải là pháp chân thật. V́ tất cả những pháp này đều không thật tướng. Do vậy ta cần trụ vào chỗ vô trụ. Ấy mới là chỗ trụ.

Thế nào là chỗ vô trụ?

Chỗ ấy chính là Niết Bàn Diệu Tâm Thật Tướng, Vô Tướng, là Như Lai tạng, là Chơn Như, tịch diệt. Không thể dùng ư niệm để phân biệt lại càng không thể dùng cái ta để phán đoán xem xét mọi trạng huống của tâm.

Kinh Kim Cang là một loại kinh tối thượng thừa mà Đức Phật đă huyền kư trong Kinh Niệm Phật Ba La Mật cho các đệ tử trong đó có Bà Hoàng Thái Hậu Vi Đề Hy rằng:

“Trong đời mạt pháp tất cả mọi kinh điển đều mất lần lượt như kinh Lăng Nghiêm, Kinh Kim Cang, Kinh Lăng Già, Kinh Bát Nhă, Kinh Pháp Hoa và như thế rơ ràng Kinh Kim Cang chúng ta nên đáng trân quư giữ ǵn tŕ tụng, giải nói, chấp tŕ v.v… có như thế mới thật chứng được thế nào là Vô Ngă."

 

Viết tại núi đồi Đa Bảo, Úc Đại Lợi

Nhân lần nhập thất thứ tư, năm 2006.

 Sa Môn Thích Như Điển

(Nguồn quangduc.com )